Dinh Dưỡng & Sức Khỏe

Blog bổ sung kiến thức về Dinh Dưỡng & Sức Khỏe !

Khi có thai bị rạn da

Hỏi: Khi có thai, ở bụng và háng có nhiều vết rạn da. Tại sao mà như vậy? Có thể phòng rạn da được không?
Đáp: Người có thai đến tháng thứ tư có thể xuất hiện vết rạn da, nhưng thông thường là vào tháng 6-7 của thời kỳ mang thai. Hiện tượng này khá phổ biến. Có tài liệu cho rằng cứ 10 người có thai thì gần 8 người bị các vết rạn da.. Vết rạn thường xuất hiện ở háng, đùi, bụng và vú. Rạn da có yếu tố di truyền, nếu mẹ bị rạn da thì con gái cũng hay bị. Hoặc không bị rạn da khi sinh con so, nhưng không thể tránh được khi sinh nở lần thứ hai.
Về nguyên nhân, người ta cho rằng vì da bụng căng quá mức làm đứt các sợi đàn hồi của da. Lúc mới thụ thai, bào thai coi như chỉ bằng hạt bụi, nhưng đến tháng thứ năm đã nặng chừng 500 gam và ở những tháng cuối nó lớn rất nhanh, để đến khi sinh, đứa trẻ cân nặng 3-4 kg, cộng thêm rau thai, máu, nước ối… trọng lượng tới 11-12 kg, làm cho da bụng từ tháng thứ năm trở đi căng ra rất nhanh.
Hiện nay người ta cho rằng rạn da có liên quan tới các hocmon (Corticoide) trong máu khi chúng tăng lên do nhiều nguyên nhân (dậy thì, thai nghén, điều trị…) làm cho rạn da càng mạnh hơn.
Để hạn chế rạn da có thể dùng dầu vừng, dầu đậu nành, hướng dương mà xoa. Mỗi ngày hai lần (sáng và tối), đổ một ít dầu vào bàn tay, rồi xoa xát đều khắp các vùng da dễ bị rạn cho đến khi cảm thấy không còn dầu trên da. Hoặc cũng có thể dùng một trong các thứ sau: lòng đỏ trứng gà, sữa bò tươi, cà chua, cà rốt giã nhuyễn mà xoa, nhưng một giờ sau cần rửa lại cho sạch.
Người ta có bán loại lem bôi Vergéturine để chống rạn da, nhưng kết quả không hơn gì các cách dân dã nói trên.
Người bị bướu cổ
Hỏi: Ở miền núi, thường có nhiều người bị bướu cổ, làm cho cổ to bè và rất khó coi. Có đề phòng được bệnh này không?
Đáp: Bệnh bướu cổ do ăn uống thiếu chất iôt rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và ở nước ta, nhất là một số vùng núi. Bệnh thường gặp ở những vùng dân cư thường ăn thức ăn, nước uống thiếu iôt. Chất iôt thuộc nhóm những yếu tố vi lượng sinh học cần thiết. Hầu như iôt được cơ thể hấp thụ tập trung nhanh vào tuyến giáp trạng và tham gia các chức phận của tuyến này. Cơ thể thiếu iôt sẽ dẫn tới rối loạn các chức phận tuyến giáp trạng gây tăng sản và dẫn tới tuyến giáp trạng to làm cho cổ biến dạng lớn bè ra.
Nước biển, không khí và đất các vùng ven biển là nơi chứa nhiều iôt nhất. Những vùng này hàm lượng iôt trong các thực phẩm thực vật và thịt, trứng, sữa… cũng thường cao. Nơi càng xa biển hàm lượng iôt trong môi trường đất, nước, không khí càng giảm làm cho lượng iôt trong thực phẩm các vùng này cũng giảm theo. Do đó ở những vùng thức ăn nghèo iôt tỷ lệ người mắc bệnh bướu cổ thường cao.
Vùng núi nước ta có khoảng 7 triệu dân, khá nhiều vùng có thể quy là vùng bướu cổ lưu hành. Trong các vùng này người mắc bệnh bướu cổ là 18-80%. Trong số 7 triệu dân có khoảng 1 triệu người sống ở những vùng cần phòng bệnh khẩn cấp (tỷ lệ người mắc từ 30% trở lên và có bệnh đần độn).
Phụ nữ thiếu iôt không những dễ mắc bệnh mà đặc biệt còn hại tới bào thai.. Khi người mẹ bị thiếu iôt trầm trọng, cơ thể sẽ không sản xuất đủ hocmon tuyến giáp làm bộ não bào thai không phát triển, đứa trẻ sinh ra dễ bị đần độn. Theo tổ chức y tế thế giới, ở các nước đang phát triển tỷ lệ bệnh bướu cổ và trẻ em đần độn nặng còn cao nhưng chưa được chú ý phòng ngừa đúng mức. Theo bệnh viện nột tiết trung ương, ở nước ta bệnh đần độn có ở nhiều xã miền núi với tỷ lệ 1-6% số người đến khám, ở nhiều xã còn có khoảng 10% số trẻ em đang học phải bỏ dỡ và mù chữ trở lại do nhận thức kém.
Về ăn uống, người bệnh bướu cổ cần chú ý thực hiện:
Cung cấp thực phẩm có hàm lượng iôt cao.
Hạn chế các yếu tố có thức ăn nước uống gây cản trở việc hấp thụ iôt của cơ thể.
Người bệnh không nên ăn nhiều các loại rau củ thuộc họ thập tự như bắp cải, cải bẹ, cải hoa, củ cải trắng… nhất là không nên ăn sống. Những rau này có chứa một chất kháng giáp trạng, dễ gây bướu cổ. Tuy nhiên các rau trên nấu thật chín hoặc muối chua thì chất kháng giáp trạng bị phá hủy và có thể ăn được.
Ở các vùng đồi núi không nên ăn sắn thường xuyên mà cần thay đổi bằng lúa nương, hoặc ngô khoai… Nếu ăn thì phải khử độc kỹ (bóc vỏ, ngâm nước lâu, luộc mở nung), vì chất độc của sắn khi vào cơ thể sẽ bị khử bằng cách kết hợp với lưu huỳnh tạo ra thioxyanat là chất cản trở việc vận chuyển iôt vào tuyến giáp trạng.
Ở những vùng núi đá vôi không nên uống nước lã, vì nước có nhiều canxi cũng cản trở cơ thể hấp thụ iôt.
Chỉ uống nước đun sôi để nguội, vì nước này đã lắng đọng phần lớn chất canxi.
Trong khẩu phần ăn uống cần chú ý tăng thêm những thực phẩm giàu iôt như nước mắm, mắm tôm, cá biển khô và các hải sản khác. Tốt nhất là dùng muối ăn có trộn iôt.
Đặc biệt theo tài liệu điều tra của ngành Y tế mấy năm gần đây thì không chỉ người dân miền núi bị bệnh bướu cổ nặng, mà nhiều vùng đồng bằng, thậm chí ven biển cũng có nhiều người bị bệnh bướu cổ do tình trạng lương thực thực phẩm thiếu chất iôt. Bởi vậy hiện nay, Nhà nước đã trộn iôt vào muối ăn bán rộng khắp cho mọi người dùng bất kể đó là vùng nào.

Updated: November 10, 2015 — 12:01 am

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Dinh Dưỡng & Sức Khỏe © 2017