Dinh Dưỡng & Sức Khỏe

Blog bổ sung kiến thức về Dinh Dưỡng & Sức Khỏe !

Thay thế các “phụ tùng cơ thể”

Hỏi: Khả năng thay thế những cơ quan bị bệnh, cấy ghép phủ tạng khỏe của người khác hiện nay ra sao? Và có thể cấy ghép được não không?
Đáp: Với sự tiến bộ rất nhanh của y học hiện nay, mọi bộ phận cơ thể bị hư hỏng đều có thể thay thế, cấy ghép cái khác tốt hơn.
Những năm trước đây việc cấy ghép nội tạng còn gặp nhiều khó khăn do cơ thể người được ghép không dung nạp bộ phận lạ, xảy ra phản ứng miễn dịch thải loại bộ phận cấy ghép. Nhưng mấy năm gần đây người ta đã tìm ra được một số thuốc ức chế miễn dịch đặc biệt là chất AZT (được giải thưởng Nobel năm 1988) và sau đó là chất Cyclopho-sphamide được bào chế và sử dụng đã góp phần quan trọng thúc đẩy kỹ thuật cấy ghép phủ tạng phát triển mạnh. Trên thế giới chỉ tính đến cuối năm 1990, các trường hợp được cấy ghép như sau: thận 230.000, đại tràng 20.000, tim 10.000, tụy 2.500, phổi 300 v.v…
Nguy cơ hiện nay là số người cần thay thế “phụ tùng cơ thể” rất nhiều nhưng người cho (người khỏe mạnh vì tai nạn bị chết) thì ít. Cung không đủ cầu, giá các cơ quan nội tạng cực kỳ đắt đã hình thành một ngành kinh doanh các bộ phận cơ thể người. Và cũng đã xảy ra nhiều chuyện đau lòng: Bắt cóc trẻ em để lấy phủ tạng bán. Thậm chí có cả bệnh viện (ở Achentina…) thủ tiêu bệnh nhân để lấy phủ tạng…
Hiện nay duy nhất chỉ có não là chưa có một trường hợp cấy ghép thực sự nào trên người được công bố. Năm 1971 giáo sư R. Uat (Mỹ) đã cấy ghép thành công đầu của con khỉ này sang thân một con khỉ kia nhưng nó cũng chỉ được nuôi sống có 4 ngày. Năm 1990, trung tâm điều trị trường đại học Hămbua (Đức) đã tiến hành ghép não của một thiếu niên mới chết cho một con tinh tinh cái và nó đã sống được hơn 5 tuần. Theo giáo sư Cristin Caprôn nhà phẫu thuật ghép tim nổi tiếng nhất nước Pháp, thì việc mổ ghép não cho người xét theo quan điểm phẫu thuật thuần túy thì hoàn toàn có thể thực hiện được; tuy nhiên trong trường hợp như vậy sẽ tạo ra một người hoàn toàn mới.
Để tìm biết con ai?
Hỏi: Trong một số trường hợp nghi vấn hoặc tranh chấp con, khoa học hiện nay có những cách nào để xác định chính xác đứa trẻ là con ai?
Đáp: Về quan hệ cha con, người ta thường nói: “Giọt máu của anh ấy để lại” (chỉ con của người quá cố); “Coi như giọt máu rơi” (ám chỉ đứa con hoang), v.v… Thực ra, để giải đáp con ai, thử máu không nói được gì nhiều.
Từ đầu thế kỷ này, dựa trên sự ngưng kết hồng cầu, nhà khoa học Lanxtênơ đã tìm ra 4 nhóm máu chính chung cho cả nhân loại, gọi là nhóm máu A, nhóm B, nhóm AB, và O. Và sau đó tìm ra yếu tố Rh (Rhesus). Nhưng nếu dựa vào nhóm máu để xác định cha con thì chỉ kết luận được người đàn ông nào đó không phải là cha của đứa trẻ hoặc thuộc diện những người nghi vấn chứ chưa thể khẳng định được.
Thập kỷ gần đây nhờ các hiểu biết mới về kháng nguyên bạch cầu, khoa học đã có thêm biện pháp xét nghiệm pháp y xem ai là bố đứa trẻ. Các bạch cầu đều có chứa khoảng 40 kháng nguyên protein trong tất cả các nhóm liên kết của chúng, cho nên khả năng tìm được hai người có cùng một nhóm liên kết là rất hiếm. Đứa trẻ được di truyền lại một nửa kháng nguyên bạch cầu là của bố và một nửa là của mẹ. Nhờ phương pháp xét nghiệm này có thể khẳng định được tới 90% trường hợp ai là cha đứa trẻ.
Tiếp đó, nhờ những công nghệ mới của sinh học phân tử, những năm gần đây các nhà khoa học đã dựa vào các cấu tạo đặc biệt của ADN của cha mẹ và con cái để giám định đứa trẻ là con ai. Phương pháp này có triển vọng nhất, chính xác nhất và đã nhiều lần được kiểm chứng qua thực tiễn.
Phân tử ADN là phân tử mang thông tin di truyền hay nói cách khác gen là một mảnh nhỏ của ADN. Dọc theo ADN có các chuỗi cơ chất lặp đi lặp lại nhiều lần. Các chuỗi này được hình thành bởi 15-30 nucleotit lặp đi lặp lại từ 3 đến 30 lần và phân bố dọc theo chiều dài phân tử ADN. Ví dụ, có người có chuỗi gồm 20 nucleotit lặp đi lặp lại 10 lần ở một vị trí, sau đó lặp lại 20 lần ở một chỗ khác, tiếp đến 30 lần và trật tự này cũng có ở hàng chục nghìn khu vực khác. Còn ở một người khác thì các chuỗi đó gồm 25 nucleotit và có ở 25 nghìn khu vực khác nhau v.v… Nhà khoa học A.Giefrây người sáng lập ra phương pháp này gọi các nhóm chuỗi đó là các “tiểu vệ tinh” một số người có tiểu vệ tinh dài và ít “tiểu vệ tinh” ngắn, số khác có nhiều “tiểu vệ tinh” loại trung, ít “tiểu vệ tinh” dài v.v… Và cuối cùng là bên trong mỗi chuỗi đó cũng có số lượng nucleotit khác nhau. Cho nên có thừa yếu tố để lập ra phương pháp giám định mới. Xác suất hai người có cùng số “tiểu vệ tinh” với cách phân bổ độ dài như nhau theo một trật tự hoàn toàn giống nhau là cực kỳ hiếm.
Các “tiểu vệ tinh” được truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau theo qui luật di truyền. Nếu so sánh độ dài “tiểu vệ tinh” và trật tự lặp đi lặp lại của nó với số lượng nucleotit v.v… của người nghi là cha mẹ với đứa con thì sẽ xác định được chắc chắn ai là cha (hoặc mẹ) đứa trẻ.

Updated: February 6, 2016 — 12:50 pm
Dinh Dưỡng & Sức Khỏe © 2017